.jpg)
Chấp hành chỉ thị trên, tháng 4/1945, đồng chí Nguyễn Văn Tây (Thanh Sơn), Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Bộ cùng với đồng chí Ba Khiêm về Cần Thơ tổ chức Hội nghị Liên Tỉnh ủy, kiện toàn tổ chức đảng các tỉnh, thành lập Liên Tỉnh ủy miền Tây do đồng chí Nguyễn Văn Tây trực tiếp làm Bí thư. Hội nghị nhất trí đề ra chủ trương triển khai công tác phát triển quần chúng, xây dựng các lực lượng bán vũ trang, như thanh niên xung kích, đội bảo vệ chiến đấu; đồng thời phát triển mạnh mẽ lực lượng thanh niên tiền phong, chỉ đạo các tỉnh ủy đưa cán bộ nắm thanh niên tiền phong, một tổ chức thanh niên cách mạng do Xứ ủy Tiền phong lãnh đạo, nhưng được Nhật cho phép và đỡ đầu đang hoạt động hợp pháp, công khai, sẵn sàng chờ lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương.
Ngày 13/8/1945, Nhật đầu hàng đồng minh. Nắm lấy thời cơ, Đại hội Quốc dân được triệu tập phát lệnh Tổng khởi nghĩa và bầu ra Ủy ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam (Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chấp hành mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh và lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, toàn thể dân nước Việt Nam đã nhất tề đứng lên giành chính quyền trong cả nước. Ở các tỉnh ĐBSCL, do làm tốt công tác chuẩn bị, dưới sự lãnh đạo của Liên Tỉnh ủy và Tỉnh ủy các tỉnh miền Tây Nam Bộ, Nhân dân xông lên giành chính quyền với sự hỗ trợ đắc lực của các tổ chức vũ trang. Từ ngày 23/8 đến ngày 28/8/1945, toàn bộ hệ thống cai trị của địch ở miền Tây đều bị lật đổ, chính quyền về tay Nhân dân.
Để bảo vệ chính quyền non trẻ, mỗi tỉnh thành lập các đơn vị vũ trang, lực lượng được tuyển chọn từ những thanh niên hăng hái nhất trong những ngày tổng khởi nghĩa, được trang bị vũ khí thô sơ và một số ít súng trường, súng kíp lấy được của địch. Đó là các trung đội, đại đội Cộng hòa vệ binh ở các tỉnh (đạo quân giáo, nóp), những đơn vị vũ trang đầu tiên, tiền thân của LLVT Quân khu.
Đêm 22 rạng sáng ngày 23/9/1945, quân Pháp bất ngờ nổ súng tiến công một loạt các cơ quan của ta ở Sài Gòn, mở màn cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Chúng đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định, sau đó mở rộng chiến tranh ra các tỉnh ĐBSCL. Ngày 26/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư động viên quân và dân Nam Bộ anh dũng chống quân xâm lược. Phấn khởi, tự hào trước lời động viên kịp thời của Bác và Trung ương, được sự tăng cường chi viện lực lượng từ miền Bắc, hưởng ứng lời “Tuyên cáo kháng chiến” của Xứ ủy, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, khắp các tỉnh ĐBSCL bừng bừng khí thế chiến đấu, các đơn vị LLVT mới được thành lập và củng cố kịp thời bước vào những trận chiến đấu mới.
Theo chỉ đạo của các Liên Tỉnh ủy, lực lượng tăng cường cho các đơn vị vũ trang hai chiến khu từ nhiều nguồn. Các đồng chí cán bộ, đảng viên từ hệ thống chính trị, từ lực lượng thanh niên, sinh viên; các đồng chí tù chính trị Côn Đảo mới về, trong đó có nhiều đảng viên được bố trí vào các ban quân sự địa phương và các đơn vị để tăng cường bộ máy lãnh đạo và chỉ huy. Về vũ khí tuy trang bị còn thô sơ, nhưng tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ rất quả cảm.
Chiến tranh ngày càng lan rộng, ngày 25/11/1945, Trung ương ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”. Để có sự lãnh đạo tập trung thống nhất nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với LLVT, phù hợp công tác lãnh đạo, điều hành cuộc kháng chiến, phát huy cao nhất tiềm lực trên từng địa bàn chiến lược, Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định chia địa bàn cả nước thành 12 Chiến khu, Nam Bộ có 3 Chiến khu (7, 8, 9). Chiến khu 8 gồm các tỉnh miền Trung Nam bộ, Chiến khu 9 là các tỉnh miền Tây Nam bộ thuộc ĐBSCL. Ngày 10/12/1945, tại xã Bình Hòa Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, hội nghị Xứ ủy Nam Bộ triển khai quyết định thành lập Chiến khu 8, do đồng chí Đào Văn Trường làm Khu bộ trưởng, đồng chí Võ Sỹ (Lê Văn Sỹ) làm Chính trị bộ chủ nhiệm, đồng chí Trương Văn Giàu làm Khu bộ phó. Chiến khu 9 do đồng chí Vũ Đức làm Khu bộ trưởng, đồng chí Phan Trọng Tuệ, Chính trị bộ Chủ nhiệm, đồng chí Nguyễn Hùng Phước, Khu bộ phó.
Như vậy, bước vào cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, ĐBSCL về quân sự được chia thành hai Chiến khu (8, 9); về mặt Đảng, Xứ ủy Nam Bộ vẫn lãnh đạo trực tiếp toàn diện các Liên Tỉnh ủy, dưới Liên Tỉnh ủy còn có các Tỉnh ủy, các đơn vị vũ trang cộng hòa vệ binh, dân quân du kích, đặt dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy, cấp ủy địa phương; ở từng đơn vị vẫn là sự lãnh đạo của các chi bộ đảng trong điều kiện Đảng hoạt động bí mật.
Sự ra đời của Chiến khu 8 và Chiến khu 9 là một sự kiện lịch sử đánh dấu sự ra đời của LLVT miền Trung và miền Tây Nam bộ, đồng thời ghi nhận một bước phát triển mới về quy mô lực lượng, hệ thống chỉ huy thống nhất, về sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng. Do chưa có hệ thống Đảng ngành dọc, toàn bộ lực lượng vũ trang hai Chiến khu đều đặt dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy, mà trực tiếp là các Liên Tỉnh ủy, Tỉnh ủy; trực tiếp chỉ huy LLVT các tỉnh là Trưởng ban quân sự. Chiến khu 8 và Chiến khu 9 đã lập nhiều chiến công vẻ vang, góp phần cùng với Nhân dân đánh bại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp xâm lược.
Thực hiện quyết định của Trung ương Đảng và Hồ Chủ Tịch (tháng 9/1945) đổi tên các đơn vị Việt Nam giải phóng quân thành Vệ quốc đoàn (Quân đội quốc gia Việt Nam) cho phù hợp với tình hình mới. Quán triệt chủ trương của trên, Hội nghị quân sự Nam Bộ quyết định củng cố nâng cấp các đội Cộng hòa vệ binh ở các tỉnh, thành, các chi đội và cũng đổi tên thành Vệ quốc đoàn. Ở Chiến khu 8, một loạt các chi đội Vệ quốc đoàn ra đời, như Chi đội 14 (Đồng Tháp Mười), 18 (Sa Đéc), 17 (Mỹ Tho), 19 (Bến Tre) và 20 (Vĩnh Trà). Ở Chiến khu 9, có các Chi đội 21 (Long Xuyên), 22 (Cần Thơ), 23 (Sóc Trăng), 24 (Rạch Giá), 25 (Bạc Liêu). Cùng thời gian này, chiến trường Nam bộ còn nhận 04 Tiểu đoàn Hải ngoại là con em Việt kiều yêu nước từ Thái Lan, Campuchia về nước tham gia kháng chiến.
Để tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Vệ quốc đoàn. Thực hiện quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc thành lập Trung ương Quân ủy, tiến tới hình thành thống nhất hệ thống đảng ngành dọc trong toàn quân. Đầu năm 1946, Trung ương Quân ủy được thành lập. Giữa năm 1946, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Cục Chính trị trực thuộc Bộ Quốc phòng, từng bước hình thành các cơ quan chính trị thống nhất trong toàn quân. Tháng 10/1946, Xứ ủy Nam bộ quyết định thành lập Phòng Chính trị Chiến khu 8. Nhiệm vụ của Phòng Chính trị được xác định là: Thực hiện các nhiệm vụ công tác chính trị của Quân khu ủy giao, phân công cán bộ nắm tình hình tư tưởng, chính trị, xây dựng đảng. Hướng dẫn cơ sở làm công tác chính trị, sử dụng các loại hình văn nghệ, báo chí, tranh ảnh, điện ảnh, ca kịch lưu động để động viên tinh thần chiến đấu của bộ đội. Hướng dẫn cho bộ đội vận động Nhân dân ủng hộ và tham gia kháng chiến cứu nước, tuyên truyền giáo dục binh lính địch giác ngộ cách mạng, bỏ hàng ngũ địch trở về với Nhân dân, mở trường văn hóa chính trị bồi dưỡng cán bộ trung đội đến tiểu đoàn, huyện đội, mở trường thiếu sinh quân.
Tháng 02/1947, Trung ương Quân ủy ra nghị quyết về thiết lập hệ thống tổ chức đảng trong toàn quân. Theo nghị quyết này: Trên là Trung ương Quân ủy, dưới là Quân khu ủy, Trung đoàn ủy, Tiểu đoàn ủy, đến chi bộ cơ sở. Các đảng viên ở các cấp khu, trung đoàn, tiểu đoàn ở cấp cuối cấp (cơ quan quân khu bộ, trung đoàn bộ, tiểu đoàn bộ) thì tổ chức một chi bộ gọi là đặc khu trực tiếp với tổ chức đảng Ban Chỉ huy của cấp đó. Để đáp ứng với yêu cầu phát triển của LLVT hai Chiến khu, thực hiện chủ trương của trên về việc tổ chức thống nhất trong toàn quân hệ thống lãnh đạo, hệ thống cơ quan chính trị ngành dọc.
Tháng 7/1947, Bộ Chỉ huy Chiến khu 9, quyết định thành lập Phòng Chính trị Chiến khu 9 tại Vàm Tràm Tróc, xã Vĩnh Thuận Đông (nay thuộc xã Vĩnh Thuận Đông, TP. Cần Thơ). Theo đề nghị của Bộ Chỉ huy Chiến khu, Xứ ủy quyết định thành lập Chi bộ Phòng Chính trị do đồng chí Trần Học Hải, Trưởng phòng làm Bí thư chi bộ. Tổng số đảng viên trong chi bộ có 25 đồng chí. Chi bộ Phòng Chính trị Chiến khu 9 được chia thành 05 tổ đảng: Tổ Văn phòng, Tổ Tuyên truyền, Tổ Khảo huấn, Tổ Cán bộ và Tổ Văn nghệ.
Sự ra đời Chi bộ đảng của Phòng Chính trị Chiến khu 9 vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp là một sự kiện nổi bật đánh dấu sự phát triển ngày càng đồng bộ, thống nhất hệ thống lãnh đạo của Đảng, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang Chiến khu, đặt nền móng cho sự phát triển trưởng thành của Đảng bộ Cục Chính trị những năm sau này./.
Còn tiếp…


