Kỳ cuối : Trở về với Đất Mũi
Đầu tháng 7/1972, gần hai tháng sau ngày Nguyễn Văn Bảy (B) hy sinh, ông Nguyễn Năm, anh trai thứ Năm trong gia đình nhận được tin báo, ông một mình ra Thanh Hóa tìm mộ em. Chuyến đi kéo dài suốt 64 ngày. Chiến tranh còn ác liệt, đường sá bị chia cắt, phương tiện thiếu thốn. Vượt qua tất cả, ông cũng tìm được nơi người em đang yên nghỉ. Nén nhang đầu tiên được thắp lên giữa núi rừng xứ Thanh trong niềm đau lặng lẽ của người anh trai.
%20v%C3%A0%20%C4%91%E1%BB%93ng%20%C4%91%E1%BB%99i%20trong%20l%E1%BB%85%20m%E1%BB%ABng%20chi%E1%BA%BFn%20th%E1%BA%AFng.jpg)
Nhiều năm sau, khi đất nước thống nhất, mỗi người một công việc, một nơi sinh sống, nhưng nỗi trăn trở đưa em về quê nhà chưa khi nào nguôi ngoai. Đến năm 2002, với sự giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, các đồng đội và chính quyền địa phương, tâm nguyện ấy mới trở thành hiện thực. Sau 30 năm, hài cốt Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) được đưa về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Cà Mau. Ông yên nghỉ bên cạnh người cha là Liệt sĩ Nguyễn Sưởng và mộ của mẹ là Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Lư.
Đưa được em về quê hương không phải là điểm kết thúc, với ông Nguyễn Năm và ông Nguyễn Anh Sơn đó mới là lúc bắt đầu một hành trình khác. Họ tìm gặp từng đồng đội cũ của Nguyễn Văn Bảy (B), từ những người cùng học lái máy bay, cùng trực ban chiến đấu, đến những người trực tiếp tham gia tìm kiếm chiếc MiG do phi công Bảy (B) lái rơi trên núi Pu Ví năm 1972. Mỗi chuyến đi mang về thêm một câu chuyện. Mỗi cuộc gặp lại bổ sung thêm một mảnh ký ức.
Khi Đài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau (nay là Báo và Phát thanh, truyền hình) thực hiện phim tài liệu về Nguyễn Văn Bảy (B), chính ông Nguyễn Năm là người kết nối với Câu lạc bộ Không quân phía Nam và nhiều đồng đội cũ của em trai. Không chỉ ghi âm các cuộc trò chuyện, ông còn cẩn thận chép lại từng lời kể, gửi lại nhân chứng đọc, chỉnh sửa rồi xác nhận. Nhờ sự tỉ mỉ ấy, nhiều chi tiết về cuộc đời và những trận chiến của Nguyễn Văn Bảy (B) được lưu giữ một cách đầy đủ, chính xác hơn. Đến nay, tất cả đều được sắp xếp trong quyển sổ dày hơn 230 trang mà ông Nguyễn Anh Sơn vẫn gìn giữ như một báu vật.
Năm 1994, khi Nhà nước truy tặng Danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho Nguyễn Văn Bảy (B), gia đình thống nhất không giữ lại số tiền thưởng. Từ ý tưởng của anh em trong gia đình, cùng sự chung tay của bạn bè và đồng đội, Quỹ Khuyến học Nguyễn Văn Bảy (B) được hình thành. Sau nhiều năm vận động, quỹ chính thức hoạt động từ năm học 2008-2009. Suốt 13 năm, quỹ đã hỗ trợ 240 lượt học sinh nghèo hiếu học, với tổng kinh phí trên 617 triệu đồng. “Đó cũng là cách gia đình tri ân quê hương và tiếp nối điều mà Bảy (B) hẳn sẽ mong muốn”, ông Sơn chậm rãi nói.
.jpg)
Cuối buổi trò chuyện, ông Sơn khép quyển sổ lại rồi nói: “Anh em chúng tôi sinh ra ở Cà Mau, tuổi thơ gắn với miền Bắc. Bây giờ cha, mẹ và Bảy (B) đều nằm lại ở đây. Vậy là gia đình đã đoàn tụ”. Lời nói tận đáy lòng khiến người nghe chợt hiểu, với một gia đình từng nhiều lần ly tán bởi chiến tranh, quê hương không chỉ là nơi cất tiếng khóc chào đời, mà còn là nơi những người thân yêu cuối cùng được trở về sau bao năm cách biệt.
Khép lại quyển sổ, cũng là khép lại một hành trình dài hơn nửa thế kỷ đi tìm, gìn giữ và nối lại những ký ức tưởng đã rời xa. Nhưng câu chuyện về Anh hùng LLVT nhân dân phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) không dừng lại ở đó. Bởi chừng nào những trang tư liệu vẫn còn được nâng niu, những câu chuyện vẫn còn được kể cho thế hệ trẻ, chừng đó hình ảnh người Anh hùng phi công quê Cà Mau vẫn sẽ tiếp tục cất cánh trong ký ức của quê hương và đất nước. Đó còn là biểu tượng của một thế hệ đã đặt Tổ quốc cao hơn tuổi trẻ, lý tưởng lớn hơn hạnh phúc riêng và sẵn sàng hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho độc lập, tự do của dân tộc.
Câu chuyện về Nguyễn Văn Bảy (B) càng nhắc nhở chúng ta rằng: Độc lập, hòa bình chưa bao giờ là điều tự nhiên có được. Đó là kết tinh từ máu xương, trí tuệ và lòng yêu nước của biết bao thế hệ người Việt Nam. Giữ gìn ký ức về những người đã ngã xuống không chỉ là sự tri ân quá khứ, mà còn là trách nhiệm với tương lai. Bởi lịch sử sẽ luôn tiếp thêm sức mạnh cho hôm nay và mai sau, để mỗi người Việt Nam thêm tự hào về Tổ quốc, thêm yêu quê hương và thêm vững tin trên con đường xây dựng, bảo vệ đất nước trong kỷ nguyên mới./.


